Chạy mô hình AI 753B trên cụm 8 NVIDIA DGX Spark: số liệu và bài học

ICT News • Hạ tầng AI • NVIDIA DGX Spark

NVIDIA vừa chính thức hỗ trợ cụm 8 node NVIDIA DGX Spark với tổng bộ nhớ hợp nhất 1 TB, đủ để chạy một mô hình 753 tỷ tham số ngay trên bàn làm việc. Bài viết tóm tắt cách NVIDIA ghép cụm DGX Spark, các con số hiệu năng hãng công bố, điều doanh nghiệp nên rút ra khi tính chuyện chạy mô hình AI lớn tại chỗ, và những bước tích hợp CSC đảm nhận khi cung cấp DGX Spark dưới dạng trọn bộ giải pháp cùng dịch vụ triển khai AI.

CTO / CIOAI EngineerMLOpsSystem / InfraĐối tác / SI

1. NVIDIA vừa công bố gì về cụm DGX Spark

Trong bài blog kỹ thuật ngày 22/10/2026, nhóm kỹ sư NVIDIA cho biết DGX Spark nay được hỗ trợ chính thức ở cấu hình cụm tới 8 node. Mỗi node có 128 GB bộ nhớ hợp nhất, nên 4 node cho 512 GB và 8 node cho 1 TB. NVIDIA nêu ba việc cụm này nhắm tới:

  • Chạy cục bộ các mô hình cỡ frontier, ví dụ GLM 5.3 với 753 tỷ tham số.
  • Điều phối nhiều mô hình cùng lúc trên một cụm dùng chung.
  • Pre-training các mô hình nhỏ với hiệu suất mở rộng gần tuyến tính.
1 TB

Bộ nhớ hợp nhất

8 node × 128 GB, theo NVIDIA.

753B

Mô hình lớn nhất được thử

GLM 5.3 ở định dạng NVFP4, khoảng 470 GB trọng số.

97,4%

Hiệu suất mở rộng

Pre-training nanochat trên 8 node so với 1 node.

NVIDIA DGX Spark, máy tính AI để bàn dùng siêu chip GB10
Ảnh 1. NVIDIA DGX Spark. Nguồn: NVIDIA Technical Blog

2. Một node NVIDIA DGX Spark có gì

DGX Spark là máy tính AI để bàn kích thước 150 × 150 × 50,5 mm, dùng siêu chip GB10 Grace Blackwell. Điểm quan trọng nhất với bài toán chạy mô hình lớn là CPU và GPU dùng chung một vùng bộ nhớ, và máy có sẵn card mạng ConnectX-7 để nối nhiều máy với nhau.

Thông số chính của một node DGX Spark (theo trang sản phẩm NVIDIA)
Thành phầnThông sốÝ nghĩa khi ghép cụm
Siêu chipGB10 Grace Blackwell: CPU 20 lõi Arm (10 Cortex-X925 + 10 Cortex-A725), GPU Blackwell với Tensor Core thế hệ 5Mỗi node là một máy độc lập, chạy DGX OS (Ubuntu)
Hiệu năng AITối đa 1 PFLOP FP4 (lý thuyết, có sparsity)Phù hợp mô hình lượng tử hóa NVFP4
Bộ nhớ128 GB LPDDR5x hợp nhất, băng thông 273 GB/sDung lượng lớn nhưng băng thông thấp hơn nhiều so với HBM, nên tốc độ sinh token bị giới hạn
MạngConnectX-7 200 Gbps, 2 cổng QSFP; 1 cổng 10 GbEHai cổng QSFP cho phép nối thẳng, nối vòng hoặc qua switch
Công suấtBộ nguồn 240 W; TDP của GB10 là 140 WĐặt được ở văn phòng, không cần phòng máy

Theo NVIDIA, một máy chạy được mô hình tới khoảng 200 tỷ tham số, hai máy khoảng 400 tỷ và bốn máy khoảng 700 tỷ. Cụm 8 node vì vậy mở thêm dư địa cho mô hình trên 700 tỷ tham số và cho bộ nhớ ngữ cảnh khi nhiều người dùng cùng hỏi.

3. Ba cách nối nhiều DGX Spark

Các node trao đổi tensor với nhau qua RDMA over Converged Ethernet (RoCE) trên card ConnectX-7. NVIDIA mô tả ba kiểu kết nối (Hình 1):

  • Nối thẳng (direct connect): dùng cho 2 node.
  • Nối vòng (ring), không cần switch: rẻ và đơn giản hơn, phù hợp nhất với cụm 4 node. Nhược điểm: không chia được cụm thành các nhóm độc lập, và không hợp với tải all-to-all hay MPI.
  • Qua switch: mọi node nói chuyện được với mọi node. NVIDIA khuyến nghị cấu hình này khi lên 8 node, và bắt buộc dùng switch khi muốn chia cụm thành nhiều nhóm chạy mô hình khác nhau hoặc dùng RoCEnante.
Ba kiểu kết nối cụm DGX SparkNỐI THẲNG · 2 NODENỐI VÒNG · 4 NODEQUA SWITCH · 8 NODE121 cáp QSFP giữa 2 máy1234Mỗi máy dùng 2 cổng QSFPSwitch Ethernet (RoCE)Mọi node tới mọi node, chia được nhóm
Hình 1. Ba kiểu nối nhiều DGX Spark theo mô tả của NVIDIA. Nối vòng tiết kiệm switch nhưng dữ liệu phải đi qua các node trung gian; switch cho đường đi trực tiếp giữa mọi cặp node. Hình vẽ minh họa, không thể hiện số cổng thật của switch.

Khác biệt giữa vòng và switch hiện rõ trong số đo của NVIDIA với mô hình dense Qwen3.8-27B (NVFP4, ngữ cảnh vào 8.192 token, sinh 256 token, 1 người dùng, không bật speculative decoding):

Tốc độ Qwen3.8-27B theo số node và kiểu kết nối (số liệu NVIDIA)
Số nodeKết nốiPrefill (token/s)Decode (token/s)Decode so với 1 node
1—2.63511,861,00×
2Nối thẳng3.28521,711,84×
4Vòng4.44632,822,77×
4Switch + RoCEnante4.55636,343,06×
8Vòng4.96240,113,38×
8Switch + RoCEnante5.10552,584,43×

Bảng của NVIDIA chỉ ghi các cấu hình switch có RoCEnante. Theo biểu đồ của NVIDIA (Ảnh 2), không có RoCEnante thì cụm qua switch đạt 2,56 lần ở 4 node và 3,05 lần ở 8 node.

RoCEnante là backend truyền thông tập thể (collective) NVIDIA tối ưu riêng cho Spark và đã đưa vào FlashInfer. Theo NVIDIA, ở 4 node với mô hình NVFP4, RoCEnante cho prefill cao hơn khoảng 5% và decode cao hơn khoảng 21%; ở 8 node với mô hình không lượng tử hóa, decode cao hơn khoảng 18%. RoCEnante chỉ dùng cho cụm qua switch và tự chuyển về NCCL nếu bài kiểm tra khởi động thất bại. NVIDIA cũng lưu ý NCCL cho kết quả tốt hơn khi cụm lớn hơn hoặc số người dùng đồng thời cao.

Biểu đồ mức tăng tốc decode của cụm DGX Spark khi có và không có RoCEnante
Ảnh 2. Mức tăng tốc decode của Qwen3.8-27B-NVFP4 theo số node trên topology switch, có và không có RoCEnante (tắt speculative decoding). Số liệu NVIDIA công bố. Nguồn: NVIDIA Technical Blog

4. Chạy mô hình 753B trên cụm 8 DGX Spark

Mô hình lớn nhất NVIDIA thử là GLM 5.3 của Z.ai, 753 tỷ tham số, dùng checkpoint nvidia/GLM-5.3-NVFP4 có trọng số khoảng 470 GB, bật MTP3 (dự đoán nhiều token). NVIDIA có hướng dẫn phục vụ mô hình trên cụm DGX Spark bằng vLLM. Khi chia một mô hình trên nhiều node để giải mã, cách NVIDIA nhắc tới là tensor parallel: mỗi lớp mô hình được cắt thành nhiều phần đặt trên các node, và sau mỗi bước tính các node phải gộp kết quả qua mạng (Hình 2).

Tensor parallel trên 8 nodeMột lớp của mô hìnhNode 1Node 2Node 3Node 4Node 5Node 6Node 7Node 81/8 trọng số1/8 trọng số1/8 trọng số1/8 trọng số1/8 trọng số1/8 trọng số1/8 trọng số1/8 trọng sốGộp kết quả (all-reduce) qua RoCE: RoCEnante hoặc NCCLLặp lại ở mỗi lớp, cho mỗi token sinh ra
Hình 2. Tensor parallel: mỗi node giữ một phần trọng số của từng lớp và chỉ phải đọc phần của mình khi sinh token, nhưng sau mỗi lớp các node phải gộp kết quả qua mạng. Vì vậy độ trễ và băng thông mạng giữa các node quyết định tốc độ decode khi thêm node.

Kết quả NVIDIA đo cho GLM 5.3 trên 8 node, với ngữ cảnh vào 8K token:

GLM 5.3 (753B, NVFP4) trên 8 node DGX Spark (số liệu NVIDIA)
Người dùng đồng thờiPrefill tổng (token/s)Prefill mỗi người (token/s)Decode tổng (token/s)Decode mỗi người (token/s)
11.6001.6003131
41.6007505121
81.6004736718

Cách đọc bảng: một người dùng nhận khoảng 31 token/s; theo phân tích của CSC, mức này đủ cho thử nghiệm và phát triển ứng dụng. Khi 8 người cùng hỏi, tổng thông lượng tăng lên 67 token/s nhưng mỗi người chỉ còn khoảng 18 token/s, và tốc độ đọc prompt (prefill) của cả cụm giữ ở mức 1.600 token/s. Theo phân tích của CSC, lý do nằm ở bộ nhớ: decode phải đọc trọng số liên tục, mà mỗi node chỉ có 273 GB/s băng thông LPDDR5x. Thêm node giúp chia nhỏ lượng trọng số mỗi node phải đọc, nhưng lại thêm chi phí gộp kết quả qua mạng.

NVIDIA cũng nhắc tới GLM 5.3 Flash, một mô hình mixture-of-experts, đạt khoảng 80 token/s khi sinh văn bản trên 8 node.

5. Nhiều mô hình trên một cụm với NeMo Switchyard

Ứng dụng agent thực tế thường gọi nhiều loại mô hình: mô hình lớn cho bước suy luận khó, mô hình nhỏ cho tác vụ đơn giản như phân loại hay gọi công cụ. NVIDIA thử điều này bằng NeMo Switchyard, công cụ định tuyến yêu cầu tới nhóm mô hình phù hợp theo chính sách khai báo trong file YAML (Hình 3).

Định tuyến nhiều mô hình trên một cụmYêu cầutừ ứng dụng agentNeMo Switchyardphân loại + chính sách YAMLMÔ HÌNH LỚN · QWEN3.8 FLASH NEXTBản sao 12 nodeBản sao 22 nodeBản sao 32 nodeMÔ HÌNH NHỎ · MINICPM5 2BBản sao 1 · 1 nodeBản sao 2 · 1 nodeTổng: 3 × 2 + 2 × 1 = 8 node
Hình 3. Cấu hình thử nghiệm của NVIDIA: cụm 8 node chia thành 3 bản sao Qwen3.8 Flash Next (mỗi bản 2 node) và 2 bản sao MiniCPM5 2B (mỗi bản 1 node), trong đó MiniCPM5 2B vừa phân loại yêu cầu vừa xử lý tác vụ đơn giản. Switchyard chuyển yêu cầu đơn giản sang mô hình nhỏ để dành mô hình lớn cho việc khó.

Theo NVIDIA, trên bộ benchmark gọi công cụ 92 ca, cấu hình có định tuyến đạt 91/100, tương đương cấu hình chỉ dùng Qwen3.8 Flash Next. Thông lượng tổng tăng khoảng 1,5 lần khi một nửa lưu lượng đi tới mô hình lớn, và khoảng 3 lần khi chỉ một phần tư đi tới mô hình lớn. Lưu ý: Switchyard hiện ở dạng prototype, và kiểu chia nhóm này cần kết nối qua switch.

6. Pre-training mô hình nhỏ: mở rộng gần tuyến tính

Với huấn luyện, NVIDIA chạy lại dự án nanochat (khoảng 896,5 triệu tham số, 20 lớp transformer, chuỗi 2.048 token) trên 1 tới 8 node. Khi huấn luyện mô hình nhỏ, cách chia thường dùng là mỗi node giữ đủ mô hình, tính trên phần dữ liệu riêng và chỉ đồng bộ gradient sau mỗi bước, nên lượng trao đổi qua mạng ít hơn nhiều so với giải mã. Kết quả NVIDIA công bố cho thấy mở rộng gần tuyến tính (Hình 4).

Tăng tốc pre-training nanochat0×4×8×1,00×1,97×3,85×7,79×1 node · 100%2 node · 98,4%4 node · 96,2%8 node · 97,4%
Hình 4. Tăng tốc pre-training nanochat theo số node (batch 524.288 token mỗi bước), kèm hiệu suất mở rộng. Vẽ lại từ bảng số liệu NVIDIA công bố: 8.741 token/s ở 1 node lên 68.079 token/s ở 8 node.

7. Bài học cho doanh nghiệp khi chạy mô hình AI lớn tại chỗ

Số liệu NVIDIA cho thấy rõ cụm DGX Spark mạnh ở đâu và dừng ở đâu. Theo phân tích của CSC, có bốn điểm đội ngũ hạ tầng và MLOps nên lưu ý:

  1. Dung lượng bộ nhớ giải quyết bài toán “có chạy được không”, băng thông bộ nhớ quyết định “chạy nhanh cỡ nào”. Cụm 1 TB đưa mô hình 753B về bàn làm việc, nhưng tốc độ mỗi người dùng giảm khi đông người hỏi cùng lúc.
  2. Kết nối và phần mềm truyền thông quan trọng không kém số node. Với 8 node, cụm qua switch dùng RoCEnante đạt mức tăng tốc decode 4,43 lần, so với 3,38 lần khi nối vòng; nếu chỉ dùng switch với NCCL mặc định, NVIDIA đo được 3,05 lần. Nếu định đi quá 4 node hoặc chia cụm cho nhiều mô hình, hãy tính switch và backend truyền thông ngay từ đầu.
  3. Huấn luyện mở rộng tốt hơn suy luận. Pre-training đạt 7,79 lần trên 8 node, trong khi decode của mô hình dense đạt 4,43 lần. Cùng một cụm, hiệu quả đầu tư khác nhau theo loại tải.
  4. Phần lớn công sức nằm ở khâu tích hợp. Để có các con số trên cần nối mạng, cấu hình RoCE, chọn backend truyền thông, dựng container vLLM, viết chính sách định tuyến và đo lại từng cấu hình. Hỗ trợ cụm 8 node trong NVIDIA Sync dự kiến có vào cuối năm, Switchyard đang là prototype, và benchmark dense không bật speculative decoding.

8. Dịch vụ triển khai AI của CSC: từ cụm DGX Spark đến LLM serving và RAG doanh nghiệp

NVIDIA có sẵn playbook cho từng bước, nhưng đưa cụm vào môi trường doanh nghiệp (mạng, phân quyền, dữ liệu nội bộ, vận hành) vẫn là một khối việc tích hợp nhiều bước. Dịch vụ triển khai hạ tầng AI của CSC nhận phần tích hợp đó, để nhóm AI tập trung vào ứng dụng. Là nhà phân phối giá trị gia tăng (VAD) trong các lĩnh vực AI, Cloud và Data, CSC cung cấp NVIDIA DGX Spark dưới dạng trọn bộ giải pháp: thiết bị, cài đặt platform, LLM serving, RAG và Agentic AI, cùng dịch vụ tư vấn, triển khai và hỗ trợ. Bảng dưới đối chiếu từng bước trong bài NVIDIA với phần việc CSC làm cùng doanh nghiệp.

Từ các bước trong bài NVIDIA đến phần việc của CSC
BướcViệc cần làm theo bài NVIDIACSC làm cùng doanh nghiệp
Ghép nối cụmChọn nối thẳng, vòng hay switch; cấu hình mạng RoCE, bắt đầu từ 2 node rồi mở rộngThiết kế topology theo số node và cách chia nhóm, đấu nối cáp và switch, cấu hình RoCE, kiểm NCCL và RoCEnante bằng bài đo trước khi bàn giao
Cài đặt platformDGX OS cài sẵn; thiết lập NVIDIA Sync, container và môi trường chạy cho cụmCài và chuẩn hóa hệ điều hành, container runtime, kho image, giám sát tài nguyên và phân quyền cho nhiều nhóm dùng chung
LLM servingDựng vLLM nhiều node, chọn checkpoint NVFP4, bật MTP, đo prefill và decodeChọn mô hình và độ chính xác theo bài toán, cấu hình vLLM hoặc SGLang, tensor parallel, API tương thích OpenAI, đo thông lượng theo số người dùng thật
Nhiều mô hìnhChia cụm thành nhóm, viết chính sách định tuyến YAML cho SwitchyardThiết kế cách phân bổ node cho mô hình lớn và nhỏ, chính sách định tuyến theo loại tác vụ, theo dõi chất lượng và chi phí token
RAG doanh nghiệpKhông thuộc phạm vi bàiKết nối kho tài liệu nội bộ, xây pipeline trích xuất và vector database, phân quyền truy cập theo người dùng, đánh giá độ chính xác câu trả lời
Agentic AIBenchmark gọi công cụ 92 caThiết kế agent cho quy trình nghiệp vụ, tích hợp công cụ và hệ thống sẵn có, bộ ca kiểm thử riêng của doanh nghiệp

Khi ứng dụng đã chứng minh giá trị và cần phục vụ nhiều người dùng, CSC sizing hạ tầng production, thường là máy chủ GPU trong trung tâm dữ liệu. Hai điểm kỹ thuật cần tính sớm: DGX Spark dùng CPU Arm64 trong khi phần lớn máy chủ GPU dùng x86, nên image container phải build đúng kiến trúc; và mô hình NVFP4 cần GPU thế hệ Blackwell để chạy trực tiếp. Với mô hình phải chia trên nhiều máy, xem thêm bài ghép nhiều máy chủ GPU.

9. Câu hỏi thường gặp về cụm NVIDIA DGX Spark

Cụm 8 NVIDIA DGX Spark có bao nhiêu bộ nhớ?

Mỗi DGX Spark có 128 GB bộ nhớ hợp nhất LPDDR5x, nên cụm 8 node có tổng 1 TB. NVIDIA đã chạy mô hình GLM 5.3 753 tỷ tham số (khoảng 470 GB trọng số ở NVFP4) trên cụm này.

Nên nối các DGX Spark theo vòng hay qua switch?

Theo NVIDIA, nối vòng rẻ và đơn giản, phù hợp nhất với 4 node. NVIDIA khuyến nghị switch khi lên 8 node; bắt buộc dùng switch khi chia cụm thành nhiều nhóm hoặc dùng RoCEnante; với Qwen3.8-27B trên 8 node, switch kèm RoCEnante cho decode nhanh gấp 4,43 lần 1 node, so với 3,38 lần khi nối vòng.

Cụm DGX Spark chạy mô hình 753B nhanh cỡ nào?

NVIDIA đo GLM 5.3 trên 8 node với ngữ cảnh vào 8K token: prefill khoảng 1.600 token/s; decode 31 token/s khi có 1 người dùng, tổng 67 token/s (khoảng 18 token/s mỗi người) khi có 8 người dùng đồng thời.

RoCEnante là gì?

RoCEnante là backend truyền thông tập thể NVIDIA tối ưu cho DGX Spark, đã đưa vào FlashInfer. Nó chỉ dùng cho cụm qua switch, tự chuyển về NCCL nếu kiểm tra khởi động thất bại, và theo NVIDIA, với Qwen3.8-27B NVFP4 nó nâng mức tăng tốc decode ở 8 node từ 3,05 lên 4,43 lần; ở 4 node, prefill tăng khoảng 5% và decode khoảng 21%.

Có thể dùng cụm DGX Spark thay máy chủ GPU cho production không?

Cụm DGX Spark phù hợp cho phát triển, PoC, đánh giá mô hình và pre-training mô hình nhỏ. Với ứng dụng phục vụ nhiều người dùng cần độ trễ ổn định, nên sizing hạ tầng máy chủ GPU theo tải thật; mô hình NVFP4 cần GPU thế hệ Blackwell và image container đúng kiến trúc x86.

CSC hỗ trợ gì khi triển khai cụm DGX Spark và LLM tại chỗ?

CSC cung cấp NVIDIA DGX Spark dưới dạng trọn bộ giải pháp: thiết bị, tư vấn và sizing, ghép nối cụm (mạng, switch, RoCE), cài đặt platform, LLM serving với vLLM hoặc SGLang, RAG doanh nghiệp trên tài liệu nội bộ, agent cho quy trình nghiệp vụ, PoC, chuyển giao và hỗ trợ sau triển khai. CSC đã triển khai giải pháp DGX Spark trọn bộ cho một đơn vị hành chính công tại Hà Nội.

Đọc thêm về hạ tầng AI

Leave A Comment